19/10/2026
Đổi mới quản trị đại học, nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Công văn được ban hành nhằm triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Đồng thời, triển khai Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1810/QĐ-TTg ngày 18/9/2026.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở đào tạo cần cụ thể hóa chủ đề năm học thành kế hoạch, nhiệm vụ và sản phẩm phù hợp với điều kiện thực tiễn; tập trung đổi mới tư duy quản lý, quản trị đại học, tạo chuyển biến rõ nét về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng. Kết quả thực hiện được đánh giá thông qua sản phẩm cụ thể, mức độ hoàn thành mục tiêu và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2026 - 2027 là hoàn thiện chiến lược phát triển, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực quản trị và đẩy mạnh thực hiện tự chủ đại học.
Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các cơ sở đào tạo rà soát, điều chỉnh chiến lược phát triển phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của ngành, vùng và địa phương; hoàn thành việc rà soát, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc điều chỉnh chiến lược trước ngày 31/12/2026. Các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ phải được cụ thể hóa trong kế hoạch năm học, xác định rõ sản phẩm, tiến độ, nguồn lực và trách nhiệm thực hiện.
Cùng với đó, các cơ sở đào tạo được yêu cầu xây dựng hệ thống quản trị hiện đại trên nền tảng ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo; sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, giảm đầu mối và cấp quản lý trung gian, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình. Việc rà soát, hoàn thiện quy chế nội bộ, cắt giảm thủ tục hành chính không cần thiết và số hóa quy trình quản lý được xác định là những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.
Đáng chú ý, Bộ yêu cầu hoàn thiện cơ sở dữ liệu, kết nối hệ thống thông tin của cơ sở đào tạo với Hệ thống cơ sở dữ liệu về giáo dục đại học (HEMIS), thực hiện quản trị dữ liệu theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”. Người đứng đầu cơ sở đào tạo chịu trách nhiệm về tính trung thực, nhất quán của dữ liệu, đồng thời bảo đảm an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong quá trình kết nối, khai thác.

Trường Đại học Hồng Đức
Đối với phát triển đội ngũ, Bộ nhấn mạnh yêu cầu rà soát, quy hoạch giảng viên phù hợp với quy mô tuyển sinh, ngành nghề đào tạo và các điều kiện bảo đảm chất lượng. Các cơ sở đào tạo cần tăng cường đào tạo nâng cao trình độ, nhất là trình độ tiến sĩ; ưu tiên phát triển giảng viên thuộc các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM), công nghệ cao và những lĩnh vực trọng điểm.
Song song với nâng cao trình độ chuyên môn, các cơ sở đào tạo phải xây dựng kế hoạch phát triển năng lực số, năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo cho giảng viên; chú trọng kỹ năng kiểm chứng thông tin, bảo vệ dữ liệu, sở hữu trí tuệ và liêm chính học thuật. Việc đánh giá năng lực cần gắn với thực hành, sản phẩm ứng dụng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ. Đối với các trường sư phạm, trọng tâm là đào tạo nguồn nhân lực giáo viên chất lượng cao, đồng thời bồi dưỡng, chuẩn hóa năng lực đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục.
Trong công tác tuyển sinh, Bộ yêu cầu hoàn thành tuyển sinh năm 2026 theo đúng kế hoạch, chỉ tiêu và phương thức đã công bố; đồng thời rà soát, quyết định phương án tuyển sinh năm 2027 theo thẩm quyền, bảo đảm ổn định, minh bạch, công bằng, đơn giản hóa phương thức xét tuyển và nâng cao chất lượng đầu vào. Quy mô tuyển sinh phải được xác định trên cơ sở năng lực đội ngũ, cơ sở vật chất, chất lượng đầu ra và nhu cầu nhân lực.
Đối với tuyển sinh đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, các cơ sở đào tạo phải thực hiện đúng quy định về yêu cầu năng lực ngoại ngữ đối với người dự tuyển là công dân Việt Nam; sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ theo quy định tại các quy chế tuyển sinh và đào tạo tương ứng hoặc chứng chỉ khác thuộc danh mục do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố có hiệu lực tại thời điểm tuyển sinh.
Một nội dung quan trọng khác là đổi mới, hiện đại hóa chương trình và phương thức đào tạo. Bộ yêu cầu các cơ sở đào tạo rà soát, cập nhật chuẩn đầu ra, tích hợp kiến thức, kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng trí tuệ nhân tạo phù hợp với từng ngành, trình độ; loại bỏ hoặc thay thế nội dung lạc hậu, tăng cường tư duy độc lập, phản biện, sáng tạo, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm sử dụng công nghệ.
Các chương trình đào tạo cần gắn chặt hơn với thực tiễn nghề nghiệp, nhu cầu của thị trường lao động và sự tham gia của doanh nghiệp. Bộ khuyến khích phát triển chương trình liên ngành, xuyên ngành, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, trí tuệ nhân tạo, vi mạch bán dẫn, tự động hóa, công nghệ sinh học và năng lượng xanh. Các cơ sở đào tạo cần thiết lập cơ chế để doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp tham gia xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng chuẩn đầu ra, thiết kế chương trình và tổ chức đào tạo.
Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo tiếp tục phát triển học liệu số, khóa học trực tuyến mở đại chúng (MOOCs), chia sẻ tài nguyên trên nền tảng của Bộ Giáo dục và Đào tạo; mở rộng giảng dạy bằng ngoại ngữ, xây dựng lộ trình đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Hoạt động đào tạo cần tăng cường học tập thông qua nghiên cứu, dự án, trải nghiệm thực tiễn, thúc đẩy tự học và đánh giá thực chất kết quả học tập, tốt nghiệp của người học.
Thúc đẩy nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số và nâng cao trách nhiệm giải trình
Cùng với đổi mới đào tạo, Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao năng lực của các cơ sở giáo dục đại học, đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội.
Theo đó, các cơ sở đào tạo cần xây dựng kế hoạch khoa học và công nghệ gắn với thế mạnh chuyên môn, chiến lược phát triển quốc gia và nhu cầu thực tiễn của địa phương, doanh nghiệp. Hoạt động nghiên cứu phải chú trọng chất lượng, khả năng ứng dụng và tác động xã hội, không chạy theo số lượng công bố; đồng thời tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, phát triển nhóm nghiên cứu mạnh, thúc đẩy nghiên cứu gắn với đào tạo sau đại học.
Bộ cũng yêu cầu phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, thúc đẩy hoạt động của các trung tâm đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ; tạo điều kiện để giảng viên, người học triển khai dự án nghiên cứu, khởi nghiệp. Các cơ sở đào tạo cần mở rộng hợp tác với doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu trong và ngoài nước, chủ động tìm kiếm những bài toán thực tiễn để triển khai nghiên cứu, chuyển giao kết quả theo nhu cầu.
Việc bố trí kinh phí cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải tuân thủ quy định; ưu tiên học bổng, hỗ trợ nghiên cứu cho học viên thạc sĩ, nghiên cứu sinh thuộc các ngành STEM. Công tác kiểm soát liêm chính khoa học, sở hữu trí tuệ và trách nhiệm trong công bố kết quả nghiên cứu tiếp tục được tăng cường.
Trong quản lý chất lượng, Bộ yêu cầu các cơ sở đào tạo chuẩn bị dữ liệu, tự đánh giá mức độ đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo Thông tư số 83/2026/TT-BGDĐT; xác lập số liệu đầu năm, chỉ tiêu cải thiện đến ngày 31/8/2027 và minh chứng cho từng tiêu chí. Hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong phải được vận hành thực chất, gắn với kế hoạch cải tiến sau tự đánh giá, kiểm định.
Một điểm đáng chú ý trong chỉ đạo năm học là yêu cầu kiểm soát tình trạng lạm phát điểm số. Các cơ sở đào tạo phải phân tích kết quả học tập, xếp loại tốt nghiệp theo ngành, khóa học và hình thức đào tạo; đối chiếu với chuẩn đầu ra, phản hồi của doanh nghiệp để phát hiện bất cập. Bộ yêu cầu không áp đặt tỷ lệ điểm hoặc tỷ lệ tốt nghiệp giỏi, xuất sắc; không hạ chuẩn để tăng thành tích. Báo cáo kiểm soát lạm phát điểm và kết quả cải tiến phải được hoàn thành trước khi kết thúc năm học.
Cùng với đó, công tác kiểm tra nội bộ, pháp chế, công khai thông tin, quản lý tài chính và tài sản công phải được thực hiện theo đúng quy định. Hoạt động hậu kiểm tập trung vào tuyển sinh, đánh giá chuẩn đầu ra, cấp văn bằng, điều kiện đội ngũ, địa điểm đào tạo và việc sử dụng trí tuệ nhân tạo. Các cơ sở đào tạo cần quy định minh bạch phạm vi được phép sử dụng AI, nghĩa vụ khai báo, xác minh đóng góp thực của người học và xử lý gian lận học thuật.
Về chuyển đổi số, Bộ yêu cầu đánh giá mức độ chuyển đổi số của cơ sở giáo dục đại học, phát triển năng lực số và trí tuệ nhân tạo cho giảng viên, người học. Đặc biệt, các trường phải xây dựng kế hoạch tổ chức cho sinh viên tham gia “Chương trình phổ cập kiến thức, kỹ năng số cho sinh viên” trên nền tảng https://binhdanhocvuso.gov.vn/; theo dõi kết quả và gắn kiến thức được trang bị với hoạt động học tập, nghiên cứu, thực hành.
Đối với các chương trình, đề án phát triển giáo dục đại học, Bộ yêu cầu bảo đảm tiến độ triển khai nhiệm vụ đào tạo nhân lực chất lượng cao trong những lĩnh vực công nghệ then chốt như an ninh mạng, trí tuệ nhân tạo, vi mạch bán dẫn, tự động hóa, điện hạt nhân, đường sắt tốc độ cao, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học và năng lượng xanh. Việc triển khai phải phù hợp với năng lực thực tế, điều kiện bảo đảm chất lượng và nhu cầu sử dụng nhân lực.
Công tác truyền thông cũng được xác định là một trong 8 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Bộ yêu cầu các cơ sở đào tạo chủ động thông tin, tuyên truyền chính sách giáo dục đại học, kết quả đổi mới quản trị, đào tạo và nghiên cứu; tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng môi trường học thuật lành mạnh, kịp thời xử lý thông tin sai lệch trên cơ sở chứng cứ. Đồng thời, đổi mới phương thức truyền thông, đẩy mạnh phối hợp giữa các cơ sở giáo dục đại học, góp phần nâng cao niềm tin xã hội đối với chất lượng và vai trò của giáo dục đại học.
Để tổ chức thực hiện, Bộ yêu cầu các cơ sở đào tạo ban hành kế hoạch triển khai trong năm 2026, phân công nhiệm vụ bảo đảm rõ việc, rõ người, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền. Người đứng đầu trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra định kỳ; ưu tiên những kết quả cụ thể về quản trị dữ liệu, kiểm soát lạm phát điểm, tích hợp AI trong chương trình đào tạo, hợp tác doanh nghiệp và cắt giảm thủ tục hành chính.
Các cơ sở đào tạo có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ năm học 2026 - 2027 về Bộ Giáo dục và Đào tạo trước ngày 30/7/2027. Báo cáo phải tập trung vào sản phẩm, chỉ số so với mục tiêu, minh chứng đã đối soát, những tồn tại và trách nhiệm khắc phục, không chỉ liệt kê hoạt động.
Đối với Trường Đại học Hồng Đức, những định hướng và nhiệm vụ được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định là cơ sở để Nhà trường rà soát, cụ thể hóa trong kế hoạch năm học phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, điều kiện thực tiễn và định hướng phát triển. Trong bối cảnh tiếp tục kiện toàn tổ chức, đổi mới quản trị và nâng cao chất lượng hoạt động, việc gắn các mục tiêu đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển đổi số và hợp tác doanh nghiệp với sản phẩm, tiến độ và trách nhiệm cụ thể có ý nghĩa thiết thực, góp phần phát huy vai trò của Nhà trường trong đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa và khu vực.
Tinh thần xuyên suốt của năm học 2026 - 2027 là chuyển từ đổi mới tư duy sang hành động cụ thể, từ triển khai nhiệm vụ sang đánh giá bằng kết quả thực chất; lấy chất lượng đào tạo, hiệu quả nghiên cứu, năng lực quản trị và đóng góp cho xã hội làm thước đo sự phát triển của mỗi cơ sở giáo dục đại học.
Hoàng Lam