28/10/2026
Từ trang bị kiến thức đến phát triển năng lực thích ứng
– Thưa Phó Giáo sư, trước những chuyển động nhanh chóng của công nghệ và thị trường lao động, theo ông, đâu là những xu hướng sẽ định hình đào tạo nhân lực kinh tế trong những năm tới?
PGS.TS. Lê Quang Hiếu: Đào tạo nhân lực nói chung, đào đạo nhân lực lĩnh vực kinh tế, kinh doanh và quản lý đang đứng trước sự chuyển dịch căn bản, từ chú trọng truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực nghề nghiệp, khả năng thích ứng và tư duy đổi mới sáng tạo. Đây không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là xu hướng tất yếu của giáo dục đại học trong bối cảnh nền kinh tế vận động ngày càng nhanh.
Chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và kinh tế xanh đang làm thay đổi phương thức tổ chức sản xuất, kinh doanh và quản trị doanh nghiệp. Những công việc mang tính quy trình, lặp lại sẽ dần được đảm nhiệm bởi công nghệ, tự động hóa, đồng thời nhu cầu nhân lực có khả năng phân tích dữ liệu, tư duy chiến lược, tư duy đổi mới, giải quyết vấn đề và thích ứng với công nghệ ngày càng gia tăng.
Trước yêu cầu đó, đào tạo đại học không thể chỉ đáp ứng những yêu cầu nghề nghiệp hiện tại mà cần trang bị cho người học năng lực chủ động thích ứng với những công việc, mô hình kinh doanh và phương thức quản trị mới. Đào tạo nhân lực kinh tế, kinh doanh và quản lý phải có tầm nhìn, khả năng dự báo đi trước, đón đầu những thay đổi của thị trường, thay vì chỉ điều chỉnh khi nhu cầu đã xuất hiện.

PGS.TS. Lê Quang Hiếu, Trưởng Khoa Kinh tế, Trường Đại học Hồng Đức
– Từ những xu hướng đó, theo ông, giáo dục đại học cần thay đổi như thế nào để người học không chỉ có kiến thức chuyên môn mà còn đủ năng lực chủ động thích ứng với thực tiễn nghề nghiệp?
PGS.TS. Lê Quang Hiếu: Đổi mới đào tạo trước hết phải bắt đầu từ cách tiếp cận chương trình và phương pháp giảng dạy. Kiến thức chuyên môn vẫn là nền tảng, nhưng giá trị của đào tạo không dừng lại ở những kiến thức thầy/ cô truyền thụ trên lớp mà là khả năng khơi dậy tiềm năng và năng lực tự học, tự nghiên cứu và tự cập nhật kiến thức của mỗi người học, khả năng vận dụng tri thức để nhận diện, phân tích và giải quyết những vấn đề thực tiễn một cách hiệu quả.
Theo hướng đó, chương trình đào tạo cần tăng cường tính ứng dụng và vận dụng tri thức mới của nhân loại, bên cạnh việc kết hợp giữa lý thuyết với nghiên cứu tình huống, thực hành và trải nghiệm nghề nghiệp, chương trình cần hướng đến việc trang bị cho người học năng lực hiểu biết và sử dụng những công cụ hiện đại hỗ trợ cho phát triển nghề nghiệp. Chẳng hạn, trong lĩnh vực quản trị kinh doanh, sinh viên không chỉ học các nguyên lý quản trị mà cần được tiếp cận những bài toán thực tiễn về thị trường, khách hàng, tài chính, nhân sự và chiến lược kinh doanh, sử dụng thành thạo những công cụ mới trong quản trị và điều hành doanh nghiệp.
Cùng với đó, đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá cũng cần đổi mới theo hướng đánh giá và đo lường chính xác năng lực của người học thông qua dự án, sản phẩm cụ thể thể và khả năng giải quyết vấn đề. Điều quan trọng không phải sinh viên ghi nhớ được bao nhiêu kiến thức, mà là các em có thể vận dụng những kiến thức đã học như thế nào. Đây cũng là cơ sở để rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và yêu cầu của thị trường lao động.
– Khi trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi nhiều công việc trong lĩnh vực kinh tế, quản trị và kinh doanh, đâu sẽ là lợi thế cạnh tranh của sinh viên trong thị trường lao động tương lai?
PGS.TS. Lê Quang Hiếu: Trí tuệ nhân tạo không chỉ là thách thức mà còn đem đến nhiều cơ hội với người lao động, đặc biệt là lao động trẻ. Những công việc có tính lặp lại, xử lý dữ liệu theo quy trình ngày càng được công nghệ hỗ trợ, trong khi yếu tố cảm xúc, năng lực phân tích, tư duy phản biện, sáng tạo và ra quyết định của mỗi người thì khó mà thay thế được.
Đối với sinh viên kinh tế, lợi thế cạnh tranh không chỉ nằm ở khả năng sử dụng thành thạo công cụ công nghệ, mà còn ở nền tảng chuyên môn, khả năng kiểm chứng thông tin, đánh giá rủi ro và đưa ra quyết định phù hợp với bối cảnh thực tiễn. Công nghệ có thể hỗ trợ phân tích dữ liệu, dự báo xu hướng, nhưng con người vẫn giữ vai trò quyết định trong việc xác định mục tiêu, lựa chọn giải pháp và chịu trách nhiệm về kết quả.
Vì vậy, bên cạnh kiến thức chuyên ngành, sinh viên cần chủ động phát triển kỹ năng số, ngoại ngữ, giao tiếp, làm việc nhóm và tinh thần tự học tập suốt đời. Trong thời đại trí tuệ nhân tạo, lợi thế không chỉ thuộc về người biết sử dụng công nghệ, mà còn thuộc về người biết tận dụng công nghệ, biết phát huy lợi thế của nghệ kết hợp với kiến thức chuyên môn và năng lực tư duy đổi mới để tạo ra giá trị.

PGS.TS. Lê Quang Hiếu trao đổi công việc chuyên môn với cán bộ Khoa Kinh tế, Trường Đại học Hồng Đức
– Thưa Phó Giáo sư, từ vị thế của một trường đại học công lập trực thuộc UBND tỉnh Thanh Hóa, đâu là những lợi thế Trường Đại học Hồng Đức cần phát huy để đón đầu xu hướng đào tạo và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động?
PGS.TS. Lê Quang Hiếu: Theo tôi, lợi thế lớn nhất và cũng là quan trọng nhất chính là “trực thuộc UBND tỉnh Thanh Hóa”, trong những năm qua của Trường Đại học Hồng Đức luôn nhận được sự ủng hộ, đồng hành của các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương, điều này không chỉ giúp nhà trường được đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị mà quan trong hơn luôn nắm bắt được những chủ trương, định hướng phát triển kinh tế- xã hội địa phương một cách chính xác nhất và sớm nhất, qua đó có những chiến lược thích ứng trong nghiên cứu và chuyển giao khoa học, trong đào tạo nguồn nhân lực phục vụ địa phương và cả nước.
Thứ hai, sau gần 30 năm xây dựng và phát triển, uy tín trong đào tạo nguồn nhân lực của Nhà trường đã được khẳng định thông qua hàng trăm ngàn sản phẩm đầu ra là các cựu người học đang làm việc hiệu quả, nhiều người đang giữ những vị trí chủ chốt trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, các đơn vị sử dụng lao đônhk không chỉ coi Trường Đại học Hồng Đức là “địa chỉ đỏ” mỗi khi có nhu cầu nhân lực chất lượng cao mà còn là đối tác cùng phát triển, cùng đồng hành. Điều này giúp Nhà trường cập nhật được những hơi thở cuộc sống một cách nhanh nhất vào từng Chương trình đào tạo, từng bài giảng, sinh viên của nhà trường không chỉ được học trên giảng đường với thầy cô mà còn thường xuyên nhận được sự chỉ bảo của chính các doanh nhân, các nhà quản lý ngay tại các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh…
Thứ ba, người học tại Trường Đại học Hồng Đức trong những năm gần đây hầu hết là con em người Thanh Hóa với nhiều hoài bão và tâm huyết mong muốn đóng góp sức mình cho sự phát triển của quê hương, đồng thời có sự am hiểu văn hóa, phong tục tập quán bản địa, do đó khi bước vào thị trường lao động có nhiều thuận lợi
Thanh Hóa đang có nhiều cơ hội phát triển trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch và đặc biệt là logistics. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, quá trình chuyển đổi số và những thay đổi trong phương thức sản xuất, kinh doanh đặt ra yêu cầu mới đối với nguồn nhân lực, nhất là năng lực quản trị, ứng dụng công nghệ, tư duy phân tích và khả năng thích ứng. Đây cũng là những yêu cầu mang tính phổ biến của thị trường lao động hiện nay.
Từ góc độ đào tạo nhân lực kinh tế, tôi cho rằng cần chủ động cập nhật các nội dung về quản trị số, phân tích dữ liệu kinh doanh, thương mại điện tử, kinh tế số, quản trị chuỗi cung ứng và phát triển bền vững vào những chương trình phù hợp; đồng thời mở rộng kết nối doanh nghiệp, tăng cường các hoạt động học tập gắn với tình huống và bài toán thực tiễn.
Điều cốt lõi là phát huy lợi thế gắn với địa phương để nâng cao chất lượng đào tạo, chứ không giới hạn phạm vi phát triển của người học. Sinh viên Trường Đại học Hồng Đức trước hết cần được trang bị năng lực đáp ứng tốt nhất nhu cầu nhân lực của Thanh Hóa, đủ sức cạnh tranh trên thị trường lao động khu vực và cả nước, từng bước thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Liên kết “3 Nhà” – Đưa thực tiễn vào quá trình đào tạo
– Tại Hội nghị tiếp xúc, gặp gỡ, tham vấn và đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh với đội ngũ trí thức năm 2026, Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức đã đề xuất các giải pháp thúc đẩy hợp tác “Nhà nước – Nhà trường – Nhà doanh nghiệp”. Từ góc độ đào tạo nhân lực kinh tế, theo ông, đâu là giá trị cốt lõi của mô hình hợp tác này?
PGS.TS. Lê Quang Hiếu: Giá trị cốt lõi của mô hình hợp tác “3 Nhà” là tạo sự kết nối, đồng bộ giữa định hướng phát triển của Nhà nước, hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo nhân lực của các Cơ sở giáo dục và nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực, nhu cầu chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học của doanh nghiệp, từ đó hình thành cơ chế phối hợp, cộng sinh, các bên cùng tham gia, cùng có trách nhiệm và cùng hưởng lợi. Điểm nhấn trong mô hình “3 Nhà hiện nay” không chỉ là tăng cường kết nối song phương, mà là chuyển từ hợp tác theo từng hoạt động sang đồng hành trong quá trình tạo ra giá trị. Khi lợi ích và trách nhiệm của các bên được xác định rõ, liên kết mới có cơ sở phát triển bền vững.
Trong đó, Nhà nước giữ vai trò định hướng, kiến tạo môi trường và cơ chế chính sách; nhà trường cung cấp tri thức, đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học; doanh nghiệp phản ánh nhu cầu thị trường, đặt ra những bài toán thực tiễn và tham gia vào quá trình phát triển nguồn nhân lực.
Đối với đào tạo nhân lực kinh tế, sự liên kết này không chỉ đòi hỏi doanh nghiệp đồng hành với nhà trường trong quá trình đào tạo như tham gia góp ý xây dựng chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, phối hợp tổ chức thực hành, trải nghiệm nghề nghiệp, tham gia đánh giá năng lực người học và tuyển dụng sau đào tạo. Ở chiều ngược lại, nhà trường có thể phát huy năng lực nghiên cứu, tư vấn và chuyển giao tri thức để hỗ trợ doanh nghiệp trong quản trị, phát triển thị trường và chuyển đổi số. Bên cạnh đó, sản phẩm đào tạo trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh và quản lý của nhà trường cũng là những doanh nhân, những chủ doanh nghiệp tiềm năng trong tương lai, những người được trang bị vững kiễn thức, kỹ năng về Khởi nghiệp, khởi nghiệp ĐMST, về Quản trị doanh nghiệp ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, đây cũng là minh chứng cho sự đong góp của nhà trường với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
– Liên kết nhà trường – doanh nghiệp không phải vấn đề mới, nhưng hiệu quả hợp tác phụ thuộc vào cách thức triển khai. Theo ông, đâu là yếu tố quyết định để mối liên kết này đi vào chiều sâu, mang lại giá trị thiết thực cho cả người học và doanh nghiệp?
PGS.TS. Lê Quang Hiếu: Trên thực tế, mô hình “3 Nhà” hay “2 Nhà: Nhà trường- Doanh nghiệp” đâu đó đã được vận hành trong thời gian qua. Tuy nhiên, thời điểm này đang nhận được sự quan tâm không chỉ về mặt “lượng” mà đi sâu về “chất” trong mối quan hệ này. Theo tôi, yếu tố quyết định là “điểm chạm” giữa các bên, hợp tác chỉ bền vững và hiệu quả khi tại “điểm chạm” các bên nhận thấy giá trị cụ thể từ quá trình đồng hành, cùng thấy giá trị mà đối tác mang lại đồng thời cũng nhận ra cam kết trách nhiệm của mình.
Nhà trường cần chủ động tìm hiểu và điều chỉnh chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực doanh nghiệp, đồng hành cùng doanh nghiệp trong giải quyết những bài toán thực tiễn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Doanh nghiệp không chỉ tiếp nhận sinh viên thực tập hay cung cấp cơ sở thực hành, thực tế đơn thuần mà cần tham gia một cách có trách nhiệm trong quá trình đào tạo của nhà trường thông qua các hoạt động chia sẻ kinh nghiệm thực chiến, cung cấp tình huống thực tế, đặt hàng nghiên cứu hoặc phối hợp triển khai các dự án ứng dụng. Doanh nghiệp là khách hàng sử dụng sản phẩm của nhà trường và ngược lại, nhà trường cũng có thể cung cấp các dịch vụ cho doanh nghiệp. Chẳng hạn, một doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng thị trường có thể phối hợp với giảng viên, sinh viên khảo sát khách hàng, nghiên cứu hành vi tiêu dùng hoặc xây dựng phương án kinh doanh. Thông qua đó, sinh viên được vận dụng kiến thức, giảng viên có thêm chất liệu thực tiễn cho giảng dạy và nghiên cứu, còn doanh nghiệp có thể tiếp cận những đề xuất hữu ích. Suy cho cùng, nếu nhân lực nhà trường đào tạo ra có chất lượng cao thì chính cộng đồng doanh nghiệp cũng được hưởng lợi.
Điều cần lưu ý, hiệu quả, chất lượng hợp tác trong mối quan hệ này cần được đánh giá bằng những kết quả cụ thể, thay vì chỉ dựa vào số lượng thỏa thuận ký kết. Tinh thần hợp tác phải được thấm nhuần và thống nhất từ tư tưởng đến hành động từ những người đứng đấu lãnh đạo nhà trường, lãnh đạo hiệp hội, lãnh đạo doanh nghiệp đến từng cán bộ, giảng viên, sinh viên của nhà trường cũng như cán bộ, nhân viên người lao động tại các doanh nghiệp. Thước đo chất lượng của liên kết nhà trường - doanh nghiệp phải là giá trị tạo ra cho người học, doanh nghiệp và xã hội.

– Từ những yêu cầu đổi mới và triển vọng hợp tác “3 Nhà”, đâu là những ưu tiên mà Khoa Kinh tế cần tập trung trong thời gian tới để nâng cao chất lượng đào tạo, mở rộng kết nối doanh nghiệp và tạo dấu ấn riêng trong phát triển nguồn nhân lực?
PGS.TS. Lê Quang Hiếu: Khoa Kinh tế hiện là một trong 12 Khoa đào tạo của Nhà trường, với đội ngũ hơn 60 CBGV, trong đó có 8 PGS Kinh tế và 40 Tiến sĩ, đang đảm nhiệm tổ chức đào tạo 01 CTĐT Tiến sĩ QTKD, 05 CTĐT Thạc sĩ ( Quản lý công, Tài chính- Ngân hàng, Kế toán, Quản trị kinh doanh và Quản lý kinh tế), 07 CTĐT Đại học (Quản trị nhân lực, Kiểm toán, Kinh tế, Tài chính- Ngân hàng, Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng, Quản trị kinh doanh, Kế toán) với hơn 4.000 người hiện đang theo học tại khoa. Trong gần 30 năm xây dựng và phát triển, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, chúng tôi luôn kiên định không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo trên cơ sở cập nhật, phát triển chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy và tăng cường năng lực thực hành, ứng dụng cho người học. Chú trọng mở mới và đầu tư trọng điểm cho những ngành nghề có nhu cầu lao động cao theo định hướng phát triển của địa phương như Logistics, Thương mại điện tử, Kinh tế số,... Đặc biệt, cần quan tâm phát triển đội ngũ giảng viên cả về chất và lượng theo hướng kết hợp trình độ, kiến thức chuyên môn cao với kỹ năng công nghệ và khả năng giải quyết những vấn đề thực tiễn của đời sống kinh tế.
Cùng với đó, Khoa cần chú trọng mở rộng hợp tác doanh nghiệp theo hướng có trọng tâm, lựa chọn những nội dung phối hợp phù hợp với thế mạnh đào tạo và nhu cầu thực tế. Hoạt động hợp tác cần hướng tới những sản phẩm cụ thể, từ học phần gắn với thực tiễn, dự án sinh viên đến nghiên cứu ứng dụng và tư vấn cho doanh nghiệp. Về lâu dài, cần hướng tới môi trường đào tạo mở, trong đó nhà trường, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan có thể chia sẻ nguồn lực, kinh nghiệm và cơ hội phát triển.
Một hướng quan trọng khác là tăng cường nghiên cứu những vấn đề kinh tế - xã hội của địa phương, nhất là chuyển đổi số trong doanh nghiệp, nâng cao năng lực quản trị, phát triển thị trường và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đây vừa là nguồn chất liệu thực tiễn cho đào tạo, vừa mở rộng cơ hội để giảng viên, sinh viên tham gia giải quyết những vấn đề của đời sống kinh tế.
Đích đến của đổi mới đào tạo không chỉ là giúp sinh viên tìm được việc làm, mà còn giúp các em có năng lực phát triển nghề nghiệp, tạo việc làm và thích ứng với những thay đổi trong tương lai. Khi chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội, hoạt động đào tạo gắn với thực tiễn và hợp tác mang lại những kết quả cụ thể, đó cũng chính là đóng góp thiết thực của Khoa Kinh tế vào định hướng phát triển chung của Trường Đại học Hồng Đức.
– Xin trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư về cuộc trao đổi!
Thực hiện: Hoàng Lam