02/03/2026
Tăng trưởng theo từng quý và cả năm
Theo kịch bản xây dựng, tăng trưởng GRDP của tỉnh được phân bổ theo từng quý với mức tăng dần qua các giai đoạn trong năm. Cụ thể, quý I/2026 phấn đấu đạt 10,5%; quý II đạt 10,9%; quý III đạt 11,15%; quý IV đạt 11,36%. Tính chung 6 tháng đầu năm tăng 10,71%; 9 tháng tăng 10,86% và cả năm đạt 11%.
Trong quý I, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản dự kiến tăng 3,09%; công nghiệp – xây dựng tăng 13,93% (trong đó công nghiệp tăng 15,65%, xây dựng tăng 8,33%); dịch vụ tăng 7,62%; thuế sản phẩm (trừ trợ cấp sản phẩm) tăng 10,97%.
Sang quý II, tốc độ tăng trưởng được nâng lên ở hầu hết các khu vực: nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,71%; công nghiệp – xây dựng tăng 14,04% (công nghiệp tăng 16,11%, xây dựng tăng 8,54%); dịch vụ tăng 9,21%; thuế sản phẩm tăng 11,19%. Lũy kế 6 tháng, khu vực nông nghiệp tăng 3,46%; công nghiệp – xây dựng tăng 13,99%; dịch vụ tăng 8,46%; thuế sản phẩm tăng 11,08%.
Quý III được xác định là giai đoạn tăng tốc, với GRDP tăng 11,15%; trong đó nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,69%; công nghiệp – xây dựng tăng 13,79% (công nghiệp tăng 16,39%, xây dựng tăng 7,14%); dịch vụ tăng 9,25%; thuế sản phẩm tăng 10,64%. Lũy kế 9 tháng, các mức tăng tương ứng đạt 3,52%; 13,92%; 8,74% và 10,91%.
Đến quý IV, tăng trưởng đạt mức cao nhất trong năm, 11,36%; trong đó nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,47%; công nghiệp – xây dựng tăng 14,66% (công nghiệp tăng 17,19%, xây dựng tăng 8,77%); dịch vụ tăng 9,59%; thuế sản phẩm tăng 10,36%. Cả năm 2026, các khu vực phấn đấu đạt mức tăng tương ứng 3,5%; 14%; 9% và 10,7%, bảo đảm hoàn thành mục tiêu GRDP tăng từ 11% trở lên.
Công nghiệp giữ vai trò động lực chính
Với mục tiêu tăng trưởng GRDP năm 2026 đạt từ 11% trở lên, khu vực công nghiệp được xác định là động lực chủ yếu, đóng góp khoảng 6 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung toàn tỉnh. Năm 2026, khu vực công nghiệp phấn đấu tăng 16,4%, tương đương giá trị tăng thêm (theo giá so sánh 2010) đạt 70.829 tỷ đồng, tăng 9.959 tỷ đồng so với năm 2025.
Động lực tăng trưởng tập trung vào cả năng lực sản xuất mới và việc khai thác tối đa công suất các nhà máy hiện có. Trong năm 2026, nhiều dự án quy mô lớn dự kiến đi vào hoạt động như: Nhà máy sản xuất vải Billion Union Việt Nam – giai đoạn 1 (18.000 tấn/năm), Nhà máy săm lốp ô tô Radial (961 nghìn sản phẩm/năm), Nhà máy Intco Medical Việt Nam (35,862 nghìn tấn sản phẩm/năm), Nhà máy sản xuất giấy bao bì Miza Nghi Sơn – giai đoạn 2 (290 nghìn tấn/năm), Nhà máy sản xuất cấu kiện bê tông cốt thép công nghệ cao Đại Dương (96,5 nghìn m³/năm), Nhà máy cơ khí công nghệ cao Nghi Sơn – giai đoạn 2 (20 nghìn tấn sản phẩm/năm), Dự án số 1 – Tổ hợp hóa chất Đức Giang Nghi Sơn (136 nghìn tấn sản phẩm/năm), cùng nhiều dự án sản xuất vật liệu, dụng cụ thể thao, đồ chơi và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ khác.

Nhà máy Lọc hoá dầu Nghi Sơn
Song song với đó, các nhà máy chủ lực tiếp tục duy trì hoạt động ổn định và tối đa công suất. Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn dự kiến vận hành ở mức 98–100% công suất, phấn đấu tăng thêm khoảng 288 nghìn tấn sản phẩm so với năm 2025. Các ngành may mặc, giày da, xi măng, thép và điện năng đều đặt mục tiêu gia tăng mạnh sản lượng, lần lượt tăng thêm khoảng 20 triệu sản phẩm may mặc, 40 triệu sản phẩm giày, 3 triệu tấn xi măng, 1,5 triệu tấn thép và 2 tỷ kWh điện so với năm trước.
Cùng với đó, các sản phẩm công nghiệp truyền thống và tiểu thủ công nghiệp duy trì mức tăng bình quân 8–10%/năm, tạo nền tảng ổn định cho tăng trưởng toàn ngành. Với hệ thống khu công nghiệp, cụm công nghiệp và Khu kinh tế Nghi Sơn tiếp tục được mở rộng, Thanh Hóa đặt mục tiêu giữ vững vai trò trung tâm công nghiệp của khu vực Bắc Trung Bộ trong năm 2026.
Dịch vụ, xây dựng và nông nghiệp duy trì đà tăng
Cùng với công nghiệp, các khu vực xây dựng, dịch vụ và nông, lâm nghiệp, thủy sản tiếp tục được xác định là trụ cột quan trọng bảo đảm mục tiêu tăng trưởng chung năm 2026.
Khu vực xây dựng phấn đấu tăng 8,2%, tương đương giá trị tăng thêm (theo giá so sánh 2010) đạt 24.866 tỷ đồng, tăng 1.889 tỷ đồng so với năm 2025. Trọng tâm là giải ngân 100% kế hoạch vốn đầu tư công trước ngày 31/12/2026; đồng thời tập trung tháo gỡ khó khăn, hoàn thiện thủ tục để khởi công các dự án lớn trong năm như tuyến đường bộ ven biển đoạn Hoằng Thanh – Sầm Sơn và đoạn Tiên Trang – Khu kinh tế Nghi Sơn (tổng mức đầu tư 3.339,9 tỷ đồng), tuyến đường vành đai 3 nhánh Đông (3.210 tỷ đồng), đường giao thông kết nối liên vùng từ đường Hồ Chí Minh đến Quốc lộ 6 và cao tốc CT.03 (3.200 tỷ đồng)… Bên cạnh đó là đẩy nhanh tiến độ các dự án chuyển tiếp, các khu đô thị, thương mại, du lịch quy mô lớn, tạo động lực lan tỏa cho ngành xây dựng và thị trường bất động sản.
Khu vực dịch vụ đặt mục tiêu tăng 9%, tương đương giá trị tăng thêm đạt 59.539 tỷ đồng, tăng 4.914 tỷ đồng so với năm 2025. Trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ phấn đấu tăng từ 8% trở lên; tổng thu du lịch tăng 8,5%; riêng giá trị tăng thêm của dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 13,3%. Tỉnh tập trung phát triển ba loại hình du lịch chủ lực gồm du lịch biển, du lịch sinh thái cộng đồng và du lịch văn hóa – lịch sử; đồng thời tổ chức khoảng 100 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch nổi bật trong năm 2026. Hoạt động xuất khẩu được đẩy mạnh theo hướng chế biến sâu, phấn đấu tăng 16,4%; nhập khẩu tăng 9,5%, gắn với việc tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do và nâng cao năng lực logistics tại Cảng Nghi Sơn.
Đối với khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, mục tiêu tăng trưởng năm 2026 là 3,5%, giá trị tăng thêm đạt 20.699 tỷ đồng, tăng 701 tỷ đồng so với năm 2025. Tỉnh tập trung cơ cấu lại sản xuất theo hướng nâng cao giá trị gia tăng; mở rộng sản xuất nông sản sạch đạt tiêu chuẩn VietGAP; nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP; phấn đấu tích tụ thêm 10.000 ha đất sản xuất quy mô lớn, trong đó có ít nhất 2.000 ha ứng dụng công nghệ cao. Tổng sản lượng lương thực có hạt dự kiến tăng trên 6% so với năm trước. Đồng thời, nhiều dự án chăn nuôi quy mô lớn dự kiến phát huy hiệu quả trong năm 2026 như các dự án chăn nuôi công nghệ cao Xuân Thiện, New Hope Đồng Thịnh và các trang trại chăn nuôi tập trung, góp phần nâng cao sản lượng và ổn định nguồn cung.
Việc duy trì đà tăng ở các khu vực này không chỉ tạo nền tảng cân bằng cơ cấu kinh tế mà còn bảo đảm tính bền vững cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của tỉnh trong năm đầu giai đoạn 2026–2030.
Để bảo đảm hoàn thành mục tiêu tăng trưởng năm 2026, tỉnh xác định triển khai đồng bộ các điều kiện và nhóm giải pháp trọng tâm. Trong đó, tiếp tục giữ vững tinh thần đoàn kết, kỷ luật, kỷ cương hành chính; hoàn thiện bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với nâng cao trách nhiệm người đứng đầu.
Tỉnh tập trung nâng tầm công tác quy hoạch, rà soát, điều chỉnh và bổ sung Quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị, nông thôn và Quy hoạch chung Khu kinh tế Nghi Sơn theo hướng đồng bộ, có tính đột phá. Đồng thời, theo dõi sát tình hình, chủ động dự báo, kịp thời tham mưu giải pháp ứng phó với biến động mới; thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng truyền thống như đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu và các động lực mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và đổi mới sáng tạo.
Cùng với đó là tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh tiến độ các dự án công nghiệp, hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công; tăng cường chuyển đổi số trong quản lý nhà nước nhằm khơi thông nguồn lực, cải thiện môi trường kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Kịch bản tăng trưởng GRDP năm 2026 cho thấy mục tiêu tăng trưởng hai con số của Thanh Hóa được xây dựng trên cơ sở phân tích cụ thể theo từng quý, từng khu vực và ngành kinh tế, gắn với các dự án, nguồn lực và giải pháp thực thi rõ ràng. Đây là năm có ý nghĩa khởi đầu giai đoạn phát triển 2026–2030, tạo nền tảng để tỉnh cùng cả nước thực hiện mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong năm 2026.
Hoàng Lam